Việc phân biệt
Tái phạm và Tái phạm nguy hiểm là rất quan trọng vì đây là hai
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có mức độ tác động khác nhau hoàn toàn
đến bản án. Quy định này được nêu rõ tại Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015. Dưới đây là
cách phân biệt dựa trên các tiêu chí cụ thể:
1. Bảng
so sánh chi tiết
|
Tiêu
chí
|
Tái phạm
(Khoản 1 Điều 53)
|
Tái phạm
nguy hiểm (Khoản 2 Điều 53)
|
|
Bản chất
|
Đã bị kết
án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc tội rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
|
Là trường
hợp tái phạm ở mức độ nghiêm trọng hơn, thể hiện sự coi thường pháp luật đặc
biệt lớn.
|
|
Điều kiện
1
|
Đã bị kết
án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố
ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.
|
Đã bị kết
án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố
ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.
|
|
Điều kiện
2
|
Đã bị kết
án về tội phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm mới do cố
ý.
|
Đã tái
phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm do cố ý.
|
|
Hệ quả
|
Là tình tiết
tăng nặng (Điểm h Khoản 1 Điều 52) hoặc yếu tố định khung.
|
Là tình tiết
tăng nặng (Điểm h Khoản 1 Điều 52) hoặc yếu tố định khung với mức án cao hơn.
|
2. Các
trường hợp cụ thể của Tái phạm nguy hiểm Để bị coi là
Tái phạm nguy hiểm, người phạm tội phải rơi vào một trong hai trường hợp
sau:
- Trường hợp A: Đã bị kết án về tội phạm rất
nghiêm trọng (án từ trên 7 năm đến 15 năm) hoặc đặc biệt nghiêm trọng
(án trên 15 năm, chung thân, tử hình) do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại
phạm tội mới cũng thuộc loại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng do cố ý.
- Trường hợp B: Người này đã bị kết án về tội
phạm và đã bị coi là tái phạm (theo Khoản 1), chưa được xóa án tích
mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý.
3. Những
điểm cần lưu ý đặc biệt 1.
Án tích đã được xóa: Nếu một người đã từng phạm tội nhưng đã được xóa án tích thì lần phạm tội
tiếp theo được coi là phạm tội lần đầu, không tính là tái phạm. 2.
Lỗi vô ý: Tái
phạm và tái phạm nguy hiểm chủ yếu áp dụng cho các tội lỗi cố ý. Nếu phạm
tội mới do vô ý, thường sẽ không rơi vào các trường hợp này (trừ một số cấu
thành định khung đặc biệt). 3.
Tác động đến hình phạt: * Tái phạm nguy hiểm thường là tình tiết định khung tăng nặng
ở khung hình phạt cao hơn hẳn (ví dụ: Tội trộm cắp tài sản). o Người bị xác định tái phạm nguy hiểm
sẽ có điều kiện xét giảm án hoặc tha tù trước thời hạn khắt khe hơn nhiều so với
người tái phạm thông thường.
4. Ví dụ
minh họa
- Tái phạm: A bị kết án 2 năm tù về tội Trộm
cắp tài sản (lỗi cố ý). Sau khi ra tù, chưa được xóa án tích, A lại đi trộm
cắp tiếp $\rightarrow$ Tái phạm.
- Tái phạm nguy hiểm: B đã từng bị kết án về tội Trộm
cắp và đã bị tòa tuyên là "Tái phạm" ở bản án trước đó. Sau khi
ra tù, chưa được xóa án tích, B lại tiếp tục đi trộm cắp lần nữa $\rightarrow$
Tái phạm nguy hiểm (vì đã tái phạm mà còn tiếp tục phạm tội cố ý).
Bạn có muốn
tôi giúp kiểm tra một tình huống cụ thể xem trường hợp đó là "Tái phạm"
hay "Tái phạm nguy hiểm" không?
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét