Trong pháp
luật hình sự, Lỗi là yếu tố trung tâm của mặt chủ quan, là thái độ tâm
lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu
quả do hành vi đó gây ra. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ có
lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Dưới đây là
trình bày chi tiết về các loại lỗi theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS)
2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):
1. Lỗi Cố
ý (Điều 10) Lỗi cố ý được
chia thành hai loại dựa trên sự khác biệt về nhận thức và ý chí (mong muốn hay
để mặc hậu quả). a. Lỗi cố
ý trực tiếp (Khoản 1 Điều 10)
- Nhận thức: Người phạm tội nhận thức rõ
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó.
- Ý chí: Mong muốn hậu quả phi
pháp xảy ra.
- Ví dụ: A cầm dao đâm vào tim B với mục
đích tước đoạt mạng sống của B.
b. Lỗi cố
ý gián tiếp (Khoản 2 Điều 10)
- Nhận thức: Người phạm tội nhận thức rõ
hành vi của mình là nguy hiểm, thấy trước hậu quả có thể xảy ra.
- Ý chí: Tuy không mong muốn nhưng có
ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (chấp nhận hậu quả).
- Ví dụ: Để bảo vệ vườn cây, A chăng dây
điện trần xung quanh. A biết điện có thể làm chết người qua đường nhưng vẫn
làm và mặc kệ hậu quả. Nếu có người chết, A phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp.
2. Lỗi Vô
ý (Điều 11) Lỗi vô ý xảy
ra khi người phạm tội không có ý định gây ra hậu quả nhưng do sơ suất hoặc quá
tự tin mà để hậu quả xảy ra. a. Lỗi vô
ý vì quá tự tin (Khoản 1 Điều 11)
- Nhận thức: Người phạm tội tuy thấy trước
hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.
- Ý chí: Cho rằng hậu quả đó sẽ không
xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
- Ví dụ: Bác sĩ phẫu thuật thực hiện một
kỹ thuật mạo hiểm, biết có rủi ro nhưng tự tin vào tay nghề mình sẽ xử lý
được, dẫn đến bệnh nhân tử vong.
b. Lỗi vô
ý do cẩu thả (Khoản 2 Điều 11)
- Nhận thức: Người phạm tội không thấy
trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.
- Căn cứ pháp lý: Mặc dù người đó phải thấy
trước và có điều kiện thấy trước hậu quả đó.
- Ví dụ: Y tá tiêm nhầm thuốc cho bệnh
nhân do không kiểm tra nhãn chai thuốc theo đúng quy trình (lẽ ra phải kiểm
tra và hoàn toàn có thể kiểm tra được).
3. Ý
nghĩa của việc xác định lỗi Việc phân định
rạch ròi giữa các loại lỗi có ý nghĩa sống còn trong thực tiễn xét xử: 1.
Định tội danh:
Một số tội phạm chỉ được thực hiện với lỗi cố ý (như Tội phản bội Tổ quốc). Nếu
không chứng minh được lỗi cố ý, hành vi không cấu thành tội đó. 2.
Xác định khung hình phạt: Lỗi cố ý bao giờ cũng bị trừng trị nghiêm khắc hơn lỗi vô ý. o So sánh: Tội giết người (Cố ý - Điều 123)
có hình phạt cao nhất là Tử hình; trong khi Tội vô ý làm chết người (Điều
128) có hình phạt cao nhất chỉ là 10 năm tù. 3.
Loại trừ trách nhiệm hình sự: Theo Điều 20 BLHS, nếu hậu quả xảy ra do sự kiện bất
ngờ (không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước) thì người thực
hiện hành vi không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bảng tóm
tắt các loại lỗi
|
Loại lỗi
|
Nhận
thức hậu quả
|
Thái độ
đối với hậu quả
|
|
Cố ý trực
tiếp
|
Thấy trước
chắc chắn/có thể xảy ra
|
Mong muốn
xảy ra
|
|
Cố ý
gián tiếp
|
Thấy trước
có thể xảy ra
|
Để mặc (chấp
nhận) xảy ra
|
|
Vô ý
quá tự tin
|
Thấy trước
có thể xảy ra
|
Tin rằng
không xảy ra/ngăn được
|
|
Vô ý cẩu
thả
|
Không thấy
trước
|
Lẽ ra phải
thấy trước
|
Bạn có muốn
tôi giúp phân biệt kỹ hơn giữa Lỗi cố ý gián tiếp và Lỗi vô ý vì quá
tự tin thông qua một tình huống cụ thể không? Đây là hai loại lỗi dễ bị nhầm
lẫn nhất trên thực tế.
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét