Hình phạt
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong Bộ luật
Hình sự và do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại
phạm tội. Mục đích của hình phạt là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người
phạm tội, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Bộ luật Hình sự quy định
các loại hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ,
trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình.
Bên cạnh chế
định về hình phạt, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam còn có chế định về án
treo - một trong những chế định thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo của pháp luật
hình sự Việt Nam. Thông qua việc cho phép người bị kết án tù được miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện, Nhà nước tạo cơ hội để người phạm tội tự cải tạo
tại cộng đồng, hạn chế việc cách ly họ khỏi xã hội trong những trường hợp chưa
thật sự cần thiết. Chế định này không chỉ góp phần bảo đảm hiệu quả phòng ngừa
tội phạm mà còn giúp giảm áp lực cho hệ thống cơ sở giam giữ và tạo điều kiện
thuận lợi cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng.
Tuy nhiên,
trong thực tiễn xét xử hiện nay, việc áp dụng án treo vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập và chưa thống nhất. Một số trường hợp cho hưởng án treo gây nhiều tranh luận
trong dư luận xã hội; ngược lại, có trường hợp đáng được áp dụng chính sách
khoan hồng nhưng lại không được xem xét hưởng án treo. Điều đó cho thấy cần tiếp
tục nghiên cứu nhằm làm rõ bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng cũng như những hạn
chế của chế định này trong thực tiễn.
1. Về
khái niệm và bản chất pháp lý của án treo
Theo quy định
tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 (sau
đây gọi chung là BLHS năm 2015), án treo được áp dụng đối với người bị xử phạt
tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết
giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần buộc họ phải chấp hành hình phạt tù thì Tòa án
cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Từ quy định trên có thể thấy,
án treo không phải là một loại hình phạt độc lập mà là biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện. Người được hưởng án treo bản chất là người bị kết án
phạt tù có thời hạn nhưng do đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định nên được
miễn chấp hành hình phạt tù, nếu trong thời gian thử thách người bị kết án
không phạm tội mới và chấp hành đúng các quy định về sự giám sát, giáo dục của
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Nếu phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ trong thời
gian thử thách thì có thể bị buộc phải (hoặc có thể phải) chấp hành hình phạt
tù đã cho hưởng án treo trước đó.
Bản chất của
án treo thể hiện sự kết hợp giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo của pháp luật
hình sự. Một mặt, Nhà nước vẫn tuyên hình phạt tù nhằm khẳng định thái độ lên
án đối với hành vi phạm tội; mặt khác, cho phép người phạm tội được cải tạo
ngoài xã hội nếu chưa cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng.
2. Về điều
kiện áp dụng án treo
Pháp luật hiện
hành quy định khá chặt chẽ về điều kiện hưởng án treo nhằm tránh tình trạng áp
dụng tùy tiện. Theo quy định của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số
02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, người phạm tội chỉ được hưởng
án treo khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Thứ nhất, bị xử phạt tù không quá 03 năm.
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giới hạn phạm vi áp dụng đối với những trường
hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng có mức độ nguy hiểm không
lớn.
- Thứ hai, có nhân thân tốt. Điều kiện này
được hiểu là trước khi phạm tội, người phạm tội chấp hành tốt chính sách pháp
luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc.
- Thứ ba, có từ hai tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất một tình tiết được quy định tại
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quy định này nhằm bảo đảm người được hưởng án
treo thực sự có khả năng tự cải tạo và đáng được hưởng sự khoan hồng của pháp
luật.
- Thứ tư, có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi
làm việc ổn định để phục vụ cho việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử
thách.
- Thứ năm, xét thấy không cần thiết phải bắt
chấp hành hình phạt tù. Đây là điều kiện quan trọng nhưng cũng là điều kiện gây
nhiều tranh luận nhất bởi tính định tính và phụ thuộc vào nhận định chủ quan của
Tòa án.
3. Về những
bất cập trong thực tiễn
3.1.
Trong thực tiễn xét xử
Trong những
năm gần đây, án treo được áp dụng tương đối phổ biến trong xét xử hình sự. Việc
áp dụng chế định này đã mang lại nhiều kết quả tích cực, đặc biệt đối với các
trường hợp phạm tội lần đầu, phạm tội do vô ý hoặc người phạm tội có nhiều tình
tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng cho thấy nhiều bất cập đáng chú
ý.
- Một là, việc áp dụng án treo giữa các địa
phương còn thiếu thống nhất. Có những vụ án với tính chất, mức độ tương tự
nhưng kết quả xét xử lại khác nhau, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng
trong áp dụng pháp luật, ví dụ:
- Cùng là vụ
án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” bị truy tố,
xét xử theo điểm b (trong tình trạng có sử dụng rượu, bia) khoản 2 Điều 260 Bộ
luật Hình sự, có hậu quả làm một người chết; các bị cáo đều có nhân thân tốt,
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thương thiệt hại, người bị hại
có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu xử lý hình sự; gia đình các bị
cáo đều có công với cách mạng. Tuy nhiên, tại Bản án số 04/2024/HS-ST, Tòa án
nhân dân thành phố LX, tỉnh AG xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G 01 năm tù nhưng
cho hưởng án treo; còn tại Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 31/7/2024, Tòa án nhân
dân huyện VT, thành phố CT, xử phạt bị cáo Bùi Hoàng H01 năm 03 tháng tù.
- Hai
là, tiêu chí đánh giá “không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi
xã hội” chưa được hướng dẫn cụ thể. Trong nhiều trường hợp, việc cho hưởng án
treo chủ yếu dựa vào nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử.
- Ba
là, một số vụ
án cho hưởng án treo gây phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, đặc biệt đối
với các tội danh liên quan đến tham nhũng, chức vụ hoặc xâm phạm trật tự công cộng.
Điều này đặt ra yêu cầu phải cân bằng giữa chính sách khoan hồng và yêu cầu đấu
tranh phòng chống tội phạm.
- Bốn là, công tác giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo tại địa phương ở nhiều nơi còn mang tính hình thức. Việc phối
hợp giữa chính quyền địa phương, cơ quan thi hành án và gia đình người phạm tội
chưa thực sự hiệu quả.
3.2.
Trong thi hành hình phạt án treo
Bên cạnh những
kết quả tích cực, thực tiễn áp dụng án treo hiện nay vẫn phát sinh nhiều khó
khăn, đặc biệt là việc thi hành án treo đối với trường hợp người đang được hưởng
án treo bị phát hiện trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội khác.
- Ví dụ: A thực
hiện hành vi trộm cắp tài sản vào tháng 01/2023. Tháng 6/2023, A tiếp tục thực
hiện hành vi đánh bạc. Tháng 10/2023, A bị xét xử về tội đánh bạc và được hưởng
án treo. Sau đó, hành vi trộm cắp tài sản trước đó bị phát hiện và A bị xét xử,
tuyên phạt tù giam.
Trong trường
hợp này, việc thi hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo còn tồn tại nhiều
quan điểm khác nhau.
Tại khoản 2
Điều 7 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo
quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp người
được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách hoặc phạm tội khác
trước khi được hưởng án treo thì:
- “2. Trường
hợp người đang được hưởng án treo mà lại phát hiện trước khi được hưởng án treo
họ đã thực hiện một tội phạm khác thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội
phạm đó và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo. Trong trường
hợp này, người phạm tội phải đồng thời chấp hành 02 bản án và việc thi hành án
do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện
theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.”
Như vậy, quy
định này đã đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, không coi hành vi phạm tội
trước bị kết án sau là “phạm tội mới” để buộc người phạm tội phải chấp
hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của hai bản
án. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn phát sinh những điểm chưa thật sự hợp lý
trong thực tiễn thi hành án, bởi:
Thời gian thử
thách là khoảng thời gian mà người được hưởng án treo phải tuân thủ pháp luật,
phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và cơ quan có thẩm
quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự. Trong
thời gian này, bản án tù chưa bị thi hành ngay, nhưng chưa bị xóa bỏ. Đây là
“giai đoạn kiểm nghiệm” việc người phạm tội có thể tự cải tạo mà không cần cách
ly khỏi xã hội hay không. Do đó, người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù thì
ý nghĩa của thời gian thử thách, mục đích cải tạo ngoài xã hội áp dụng đối với
người bị kết án không còn đạt được như ý nghĩa vốn có của chế định án treo.
Mặt khác, cơ
chế “đồng thời chấp hành hai bản án” còn khó thực hiện, gây lúng túng cho cơ
quan thi hành án.
Tác giả cho
rằng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02 nêu trên là phù hợp về mặt
nguyên tắc pháp lý do hành vi phạm tội được thực hiện trước thời điểm cho hưởng
án treo nên không thể xem là ‘phạm tội mới’. Tuy nhiên, việc buộc người phạm tội
vừa chấp hành hình phạt tù vừa thực hiện thời gian thử thách của án treo phần
nào làm giảm ý nghĩa của chế định án treo với tư cách là biện pháp cải tạo
ngoài xã hội.
4. Một số
đề xuất, kiến nghị
Để nâng cao
hiệu quả áp dụng án treo trong thời gian tới, tác giả nêu một số đề xuất, kiến
nghị sau:
Một
là, cần tiếp
tục hoàn thiện các quy định pháp luật về án treo theo hướng cụ thể hóa các điều
kiện áp dụng, đặc biệt là tiêu chí đánh giá “không cần thiết phải chấp hành
hình phạt tù”, như có thể bổ sung cơ chế đánh giá bằng tiêu chí định lượng bằng
cách xây dựng một số tiêu chí bắt buộc và xây dựng “thang điểm” của các tiêu
chí bắt buộc như:
- * Số
lượng tình tiết giảm nhẹ (đây là một điều kiện để hưởng án treo
nhưng cũng là tiêu chí để đánh giá khả năng tự cải tạo của bị cáo), ví dụ:
- + Có 02 tình
tiết giảm nhẹ (trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự) thì được một số điểm nhất định (giả sử là 10 điểm)
- + Có 02 tình
tiết giảm nhẹ và cả 02 tình tiết đều thuộc khoản 1 Điều 51 thì được nhiều điểm
hơn (giả sử là 12 điểm)
- + Có thêm 01
tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 thì cộng thêm điểm (ví dụ
cộng thêm 02 điểm)
- + Có thêm 01
tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 thì được cộng thêm điểm (ví dụ cộng thêm
0,5 điểm)
- Tương tự
như vậy, xây dựng thang điểm cho các tiêu chí khác, như:
- * Đánh
giá về nhân thân, như:
- + Nhân
thân không có tiền án, tiền sự, chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật thì đạt
số điểm cao nhất;
- + Nhân thân
“đã bị kết án” nhưng đã được xóa án tích thì được hưởng số điểm thấp hơn;
- + Nhân thân
“đã bị kết án” được sử dụng làm tình tiết định tội thì được hưởng số điểm thấp
hơn nữa.
- Tương tự như
trên để xác định số điểm của các trường hợp nhân thân đã bị xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật làm tình tiết định tội và trường hợp tính đến
ngày phạm tội này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành
chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.
- * Mức độ
hợp tác với cơ quan điều tra, như xây dựng thang điểm đối với:
- + Thái độ
thành khẩn khai báo: Mặc dù đây là một trong các tình tiết giảm nhẹ được quy định
tại khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng mức độ thành khẩn khai báo thì khác nhau trong mỗi
vụ án nên có thể đánh giá mức độ thành khẩn khai báo dựa trên thái độ: khai báo
đầy đủ, trung thực diễn biến hành vi phạm tội; không quanh co, chối tội; không
đổ lỗi cho người khác; thừa nhận trách nhiệm ngay từ giai đoạn đầu điều tra thì
sẽ đạt điểm cao nhất. Các trường hộp bị cáo nhận tội nhưng còn quanh co, không
thừa nhận trách nhiệm ngay từ đầu mà phải trải qua quá trình đấu tranh mới khai
nhận hành vi nhận tội thì sẽ đánh giá số điểm thấp hơn
- + Việc tự
nguyện giao nộp tài liệu, chứng cứ: nếu người phạm tội chủ động giao nộp công cụ,
phương tiện phạm tội; chủ động cung cấp tài liệu, dữ liệu liên quan; chủ động hỗ
trợ xác minh hành vi phạm tội; chủ động chỉ ra nơi cất giấu tài sản, tang vật
thể hiện thái độ tích cực hỗ trợ hoạt động điều tra thì được cộng điểm.
- + Thái độ Chấp
hành yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng như: có mặt đúng giấy triệu tập;
không bỏ trốn; không tiêu hủy chứng cứ; không mua chuộc, đe dọa người làm chứng;
hông cản trở hoạt động điều tra… Đây là căn cứ quan trọng để đánh giá khả năng
cải tạo ngoài xã hội.
- * Mức độ
khắc phục hậu quả (%
thiệt hại đã bồi thường): tương tự như tình tiết thành khẩn khai báo thì việc
khắc phục hậu quả cũng có nhiều mức độ, như: tự nguyện bồi thường thiệt hại (khắc
phục 100%, 70%, 50%...); hành động xin lỗi người bị hại, khôi phục tài sản bị
chiếm đoạt … thì được cộng điểm tương ứng.
- * Mức độ
lỗi: Nếu vụ án
có lỗi hỗn hợp (tức người bị hại có một phần lỗi) thì cộng thêm điểm cho bị
cáo.
- Sau khi xây
dựng thang điểm cho các tiêu chí thì cần cân nhắc mức điểm để cân nhắc cho hưởng
án treo và mức điểm được hưởng án treo. Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng
sẽ giúp tăng tính khách quan trong quyết định cho hưởng án treo. Tuy nhiên, việc
xây dựng thang điểm cho các tiêu chí này phải được nghiên cứu cụ thể, cân nhắc
thận trọng, hài hòa, phù hợp giữa các tình tiết với nhau. Do dó, trong phạm vi
bài viết này, tác giả chỉ có thể nêu ra ý tưởng để các bạn đọc cùng tham khảo
và trao đổi.
- Đồng thời với
việc cụ thể hóa tiêu chí đánh giá “không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù”
thì cần quy định tăng cường trách nhiệm giải trình của Tòa án bằng cách yêu cầu
Bản án phải phân tích cụ thể lý do vì sao: người phạm tội không cần phải cách
ly khỏi xã hội (hoặc phải cách ly khỏi xã hội đối với những trường hợp đáp ứng
đủ các điều kiện cho hưởng án treo nhưng Hội đồng xét xử không cho bị cáo hưởng
án treo). Điều này giúp nâng cao tính minh bạch và tạo cơ sở cho kiểm tra, giám
đốc thẩm.
Hai
là, cần hướng
dẫn rõ cơ chế thi hành đồng thời hai bản án; quy định rõ thời gian thử thách có
tạm dừng khi chấp hành hình phạt tù hay không và hoàn thiện pháp luật thi hành
án hình sự. Tác giả cho rằng, để đảm bảo ý nghĩa của án treo thì nên quy định
thi hành từng bản án riêng biệt mà không thi hành đồng thời hai bản án, như thi
hành xong bản án tù giam mới tiếp tục thực hiện bản án cho hưởng án treo hoặc
ngược lại.
Ngoài ra, cần
tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật thông qua các nghị quyết của
Hội đồng Thẩm phán hoặc thông qua phát triển án lệ; tăng cường công tác đào tạo,
bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán nhằm hạn chế tình trạng áp dụng án
treo thiếu thống nhất và nâng cao chất lượng công tác giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo tại địa phương; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức có liên quan.
ThS. PHẠM
THANH PHƯƠNG (Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét