Căn cứ không
khởi tố vụ án hình sự là những điều kiện pháp lý mà khi rơi vào một trong các
trường hợp đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được phép
ra quyết định khởi tố vụ án, dù có dấu hiệu tội phạm hoặc hành vi vi phạm xảy
ra. Dựa trên quy
định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, có 08 căn cứ chính để
không khởi tố vụ án hình sự như sau:
1. Không
có sự việc phạm tội Đây là trường
hợp thông tin tố giác, báo tin về tội phạm không đúng sự thật hoặc sự việc xảy
ra nhưng không có dấu hiệu của một tội phạm cụ thể nào được quy định trong Bộ
luật Hình sự.
- Ví dụ: Một người báo mất trộm điện thoại
nhưng thực tế là họ để quên ở nhà.
2. Hành
vi không cấu thành tội phạm Hành vi có xảy
ra trên thực tế nhưng thiếu một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm (Chủ thể,
Khách thể, Mặt chủ quan, Mặt khách quan).
- Các trường hợp điển hình: Hành
vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (chỉ vi phạm hành chính),
phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, hoặc sự kiện bất ngờ.
3. Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự - Dựa theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, nếu người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi theo quy
định (thường là dưới 14 tuổi, hoặc dưới 16 tuổi đối với một số tội danh ít
nghiêm trọng) thì không khởi tố vụ án đối với họ.
4. Người
mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu
lực pháp luật - Nguyên tắc
"Non bis in idem" (không ai bị xét xử hai lần cho cùng một hành vi).
Nếu một hành vi đã được tòa án phán quyết bằng một bản án có hiệu lực hoặc cơ
quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ vụ án mà chưa bị hủy bỏ, thì không được
khởi tố lại.
5. Đã hết
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự - Thời hiệu
này được quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự. Tùy theo mức độ nghiêm trọng
của tội phạm (5 năm, 10 năm, 15 năm hoặc 20 năm), nếu quá thời hạn này kể từ
ngày tội phạm được thực hiện mà cơ quan chức năng chưa khởi tố thì sẽ không được
khởi tố nữa.
6. Tội phạm
đã được đại xá - Đại xá là sự
khoan hồng của Nhà nước (thường do Quốc hội quyết định) nhằm tha bổng hoàn toàn
đối với một loại tội phạm nhất định trong một giai đoạn lịch sử. Khi đã có lệnh
đại xá, hành vi đó không còn bị khởi tố.
7. Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết - Trách nhiệm
hình sự mang tính cá nhân. Khi người tình nghi duy nhất đã chết, việc khởi tố vụ
án không còn ý nghĩa về mặt xử lý hình sự (trừ trường hợp cần xác định trách
nhiệm dân sự hoặc cần tái thẩm đối với người khác).
8. Tội phạm
quy định tại Khoản 1 các Điều cụ thể mà bị hại không yêu cầu khởi tố Đây là trường
hợp "khởi tố theo yêu cầu của bị hại" (quy định tại Điều 155 Bộ luật
Tố tụng hình sự).
- Áp dụng với một số tội danh như:
Cố ý gây thương tích (ít nghiêm trọng), Hiếp dâm (khoản 1), Làm nhục người
khác...
- Nếu bị hại hoặc người đại diện của
bị hại không có đơn yêu cầu khởi tố, cơ quan chức năng không được phép tự
ý khởi tố.
Bảng tóm
tắt quy trình xử lý khi có căn cứ không khởi tố
|
Đối tượng
|
Thẩm
quyền / Hành động
|
|
Cơ quan
có thẩm quyền
|
Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
|
|
Văn bản
ban hành
|
Quyết định
không khởi tố vụ án hình sự.
|
|
Thông
báo
|
Phải gửi
cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cá nhân, cơ quan đã tố giác/báo
tin trong thời hạn 24 giờ.
|
Lưu ý: Trong trường hợp hành vi có dấu hiệu
vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, cơ quan có thẩm quyền sẽ chuyển hồ sơ
để xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét