Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2024

Trình bày khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm?

CÂU HỎI : Trình bày khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm?

(Trả lời bên dưới)

Trong luật hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện hành vi phạm tội cố ý, phản ánh quá trình diễn biến của tội phạm từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc.

Việc phân chia này chỉ áp dụng đối với tội phạm thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Dưới đây là các giai đoạn cụ thể theo Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):


1. Chuẩn bị phạm tội (Điều 14)

Khái niệm: Là giai đoạn người phạm tội có hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm.

  • Các hành vi điển hình: Mua vũ khí, thăm dò địa điểm, lập kế hoạch, tìm kiếm đồng phạm...
  • Trách nhiệm hình sự: Theo Khoản 2 Điều 14, người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh đặc biệt nguy hiểm (khoảng 25 tội danh được liệt kê cụ thể như: Phản bội Tổ quốc, Giết người, Cướp tài sản...).

2. Phạm tội chưa đạt (Điều 15)

Khái niệm: Là trường hợp người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm nhưng không thực hiện tội phạm được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ.

Phạm tội chưa đạt được chia làm 2 loại trong khoa học luật hình sự:

  • Chưa đạt chưa hoàn thành: Người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả (Ví dụ: Định bắn nhưng súng bị kẹt đạn).
  • Chưa đạt đã hoàn thành: Người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cần thiết nhưng hậu quả vẫn không xảy ra (Ví dụ: Đã bắn nhưng đạn không trúng hoặc nạn nhân được cấp cứu kịp thời).

3. Tội phạm hoàn thành

Khái niệm: Là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm.

  • Đối với tội có cấu thành vật chất: Tội phạm hoàn thành khi hành vi gây ra hậu quả thực tế (Ví dụ: Tội giết người hoàn thành khi nạn nhân chết).
  • Đối với tội có cấu thành hình thức: Tội phạm hoàn thành ngay khi người đó thực hiện hành vi nguy hiểm mà không cần đợi hậu quả xảy ra (Ví dụ: Tội cướp tài sản hoàn thành ngay khi có hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt).

4. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16)

Đây không hẳn là một giai đoạn mà là một tình tiết đặc biệt xảy ra trong quá trình thực hiện tội phạm.

Khái niệm: Là việc tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

  • Điều kiện: Phải tự nguyện và dứt khoát.
  • Hệ quả pháp lý: Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm (trừ trường hợp hành vi thực tế đã cấu thành một tội khác).

Ý nghĩa của việc xác định các giai đoạn

1.     Định tội danh: Giúp xác định tội phạm đã dừng ở mức độ nào để áp dụng đúng điều luật.

2.     Quyết định hình phạt (Điều 57):

o    Đối với chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều luật tương ứng nhưng mức hình phạt sẽ nhẹ hơn so với tội phạm hoàn thành.

o    Mức án tối đa cho chuẩn bị phạm tội thường không quá 1/2 mức phạt tù của khung hình phạt; cho phạm tội chưa đạt thường không quá 3/4 mức phạt tù của khung hình phạt.


Bạn có muốn tôi phân tích sâu hơn về cách tính hình phạt cụ thể cho giai đoạn "Phạm tội chưa đạt" thông qua một ví dụ án treo hoặc án tù không?

Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích

VIDEO:

(đang cập nhật)

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(đang cập nhật)

VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét