Trong luật
hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện hành vi phạm
tội cố ý, phản ánh quá trình diễn biến của tội phạm từ lúc bắt đầu cho đến khi
kết thúc. Việc phân
chia này chỉ áp dụng đối với tội phạm thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Dưới đây là các giai đoạn cụ thể theo Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 (sửa đổi,
bổ sung 2017):
1. Chuẩn
bị phạm tội (Điều 14) Khái niệm: Là giai đoạn người phạm tội có hành
vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết
khác để thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện hành vi khách
quan được quy định trong cấu thành tội phạm.
- Các hành vi điển hình: Mua vũ khí, thăm dò địa điểm, lập
kế hoạch, tìm kiếm đồng phạm...
- Trách nhiệm hình sự: Theo Khoản 2 Điều 14,
người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội
danh đặc biệt nguy hiểm (khoảng 25 tội danh được liệt kê cụ thể như: Phản
bội Tổ quốc, Giết người, Cướp tài sản...).
2. Phạm tội
chưa đạt (Điều 15) Khái niệm: Là trường hợp người phạm tội đã bắt
đầu thực hiện hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm
nhưng không thực hiện tội phạm được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn
của họ. Phạm tội
chưa đạt được chia làm 2 loại trong khoa học luật hình sự:
- Chưa đạt chưa hoàn thành: Người phạm tội chưa thực hiện hết
các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả (Ví dụ: Định bắn nhưng súng bị kẹt
đạn).
- Chưa đạt đã hoàn thành: Người phạm tội đã thực hiện hết
các hành vi cần thiết nhưng hậu quả vẫn không xảy ra (Ví dụ: Đã bắn nhưng
đạn không trúng hoặc nạn nhân được cấp cứu kịp thời).
3. Tội phạm
hoàn thành Khái niệm: Là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa
mãn đầy đủ các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm.
- Đối với tội có cấu thành vật chất: Tội phạm hoàn thành khi hành vi
gây ra hậu quả thực tế (Ví dụ: Tội giết người hoàn thành khi nạn nhân chết).
- Đối với tội có cấu thành hình thức: Tội phạm hoàn thành ngay khi
người đó thực hiện hành vi nguy hiểm mà không cần đợi hậu quả xảy ra (Ví dụ:
Tội cướp tài sản hoàn thành ngay khi có hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt).
4. Tự ý nửa
chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16) Đây không hẳn
là một giai đoạn mà là một tình tiết đặc biệt xảy ra trong quá trình thực hiện
tội phạm. Khái niệm: Là việc tự mình không thực hiện
tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
- Điều kiện: Phải tự nguyện và dứt khoát.
- Hệ quả pháp lý: Người tự ý nửa chừng chấm dứt
việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm (trừ
trường hợp hành vi thực tế đã cấu thành một tội khác).
Ý nghĩa của
việc xác định các giai đoạn 1.
Định tội danh:
Giúp xác định tội phạm đã dừng ở mức độ nào để áp dụng đúng điều luật. 2.
Quyết định hình phạt (Điều 57): o Đối với chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều luật tương ứng nhưng mức hình
phạt sẽ nhẹ hơn so với tội phạm hoàn thành. o Mức án tối đa cho chuẩn bị phạm tội
thường không quá 1/2 mức phạt tù của khung hình phạt; cho phạm tội chưa đạt thường
không quá 3/4 mức phạt tù của khung hình phạt.
Bạn có muốn
tôi phân tích sâu hơn về cách tính hình phạt cụ thể cho giai đoạn "Phạm tội
chưa đạt" thông qua một ví dụ án treo hoặc án tù không?
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét