Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2024

Trình bày quy định của BLHS về miễn chấp hành hình phạt (Điều 62 BLHS)?

CÂU HỎI : Trình bày quy định của BLHS về miễn chấp hành hình phạt (Điều 62 BLHS)?

(Trả lời bên dưới)

Tiếp nối các chế định khoan hồng trước đó, Miễn chấp hành hình phạt (Điều 62 BLHS 2015) là trường hợp người bị kết án đã có bản án có hiệu lực pháp luật, đang trong quá trình chờ thi hành án hoặc đang thi hành án nhưng được Nhà nước cho phép không phải tiếp tục chấp hành hình phạt đó nữa.

Dưới đây là các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật:


1. Các trường hợp miễn chấp hành hình phạt (Khoản 1, 2, 3 Điều 62)

Việc miễn chấp hành hình phạt được phân loại dựa trên thái độ cải tạo hoặc tình trạng sức khỏe của người bị kết án:

a. Do lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo

Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân (nhưng chưa được giảm xuống tù có thời hạn) có thể được miễn nếu:

  • Lập công: Có hành động giúp cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn tội phạm hoặc có cống hiến đặc biệt cho xã hội.
  • Mắc bệnh hiểm nghèo: Như ung thư giai đoạn cuối, HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS hoặc các bệnh khác mà y học xác định không còn khả năng chữa trị, và họ không còn gây nguy hiểm cho xã hội.
  • Chấp hành tốt pháp luật: Đối với người bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm, nếu đã chấp hành tốt pháp luật và lập công thì có thể được miễn phần hình phạt còn lại.

b. Đối với người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế

Người bị kết án các hình phạt bổ sung này có thể được miễn phần còn lại nếu:

  • Đã chấp hành được ít nhất 1/2 (một phần hai) thời hạn hình phạt.
  • Cải tạo tốt trong thời gian chấp hành án.

c. Đối với người bị phạt tiền

Người bị phạt tiền có thể được miễn chấp hành phần tiền còn lại nếu:

  • Đã tích cực chấp hành được một phần nhưng do gặp khó khăn kinh tế kéo dài (thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, ốm đau đau dài ngày) dẫn đến không thể tiếp tục nộp phạt.
  • Đã lập công lớn.

2. Miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt (Khoản 4, 5)

Ngoài các căn cứ cá nhân, còn có các căn cứ mang tính chính trị và pháp lý đặc biệt:

  • Thay đổi chính sách, pháp luật: Khi có quy định mới của pháp luật làm cho hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn tính nguy hiểm cho xã hội. Hoặc khi có lệnh đại xá.
  • Người dưới 18 tuổi: Nếu người dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng mà lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì cũng được xem xét miễn chấp hành hình phạt còn lại.

3. Phân biệt Miễn hình phạt (Điều 59) và Miễn chấp hành hình phạt (Điều 62)

Đây là hai khái niệm rất dễ gây nhầm lẫn trong các bài thi hoặc thực tế tư vấn:

Tiêu chí

Miễn hình phạt (Đ59)

Miễn chấp hành hình phạt (Đ62)

Thời điểm quyết định

Ngay khi tuyên án tại phiên tòa.

Khi bản án đã có hiệu lực (đang chờ hoặc đang đi tù).

Lý do chủ yếu

Do tính chất hành vi nhẹ, nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Do biến cố sức khỏe (bệnh hiểm nghèo) hoặc thái độ sau khi án có hiệu lực (lập công).

Thực tế thi hành

Chưa phải đi tù/nộp phạt một ngày nào.

Thường đã thi hành được một phần hoặc đang chờ thi hành.


4. Hệ quả pháp lý

Người được miễn chấp hành hình phạt:

1.     Không phải tiếp tục chịu sự quản lý của cơ quan thi hành án hình sự.

2.     Vẫn bị coi là có án tích. Thời gian để xóa án tích sẽ tính từ ngày có quyết định miễn chấp hành hình phạt.

3.     Vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự (bồi thường tiền) nếu bản án có tuyên, trừ khi phần dân sự cũng được miễn/giảm riêng biệt theo luật dân sự.


Lưu ý: Thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh nơi người bị kết án đang chấp hành án hoặc cư trú, dựa trên đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp.

Bạn có muốn tìm hiểu thêm về hồ sơ và thủ tục để xin Miễn chấp hành hình phạt do mắc bệnh hiểm nghèo không?

Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích

VIDEO:

(đang cập nhật)

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(đang cập nhật)

VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét