Tiếp nối các
chế định khoan hồng trước đó, Miễn chấp hành hình phạt (Điều 62 BLHS
2015) là trường hợp người bị kết án đã có bản án có hiệu lực pháp luật, đang
trong quá trình chờ thi hành án hoặc đang thi hành án nhưng được Nhà nước cho
phép không phải tiếp tục chấp hành hình phạt đó nữa. Dưới đây là
các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật:
1. Các
trường hợp miễn chấp hành hình phạt (Khoản 1, 2, 3 Điều 62) Việc miễn chấp
hành hình phạt được phân loại dựa trên thái độ cải tạo hoặc tình trạng sức khỏe
của người bị kết án: a. Do lập
công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo Người bị kết
án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân (nhưng chưa
được giảm xuống tù có thời hạn) có thể được miễn nếu:
- Lập công: Có hành động giúp cơ quan chức
năng phát hiện, ngăn chặn tội phạm hoặc có cống hiến đặc biệt cho xã hội.
- Mắc bệnh hiểm nghèo: Như ung thư giai đoạn cuối, HIV
đã chuyển sang giai đoạn AIDS hoặc các bệnh khác mà y học xác định không
còn khả năng chữa trị, và họ không còn gây nguy hiểm cho xã hội.
- Chấp hành tốt pháp luật: Đối với người bị phạt cải tạo
không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm, nếu đã chấp hành tốt pháp luật và
lập công thì có thể được miễn phần hình phạt còn lại.
b. Đối với
người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế Người bị kết
án các hình phạt bổ sung này có thể được miễn phần còn lại nếu:
- Đã chấp hành được ít nhất 1/2
(một phần hai) thời hạn hình phạt.
- Cải tạo tốt trong thời gian chấp
hành án.
c. Đối với
người bị phạt tiền Người bị phạt
tiền có thể được miễn chấp hành phần tiền còn lại nếu:
- Đã tích cực chấp hành được một
phần nhưng do gặp khó khăn kinh tế kéo dài (thiên tai, hỏa hoạn,
tai nạn, ốm đau đau dài ngày) dẫn đến không thể tiếp tục nộp phạt.
- Đã lập công lớn.
2. Miễn
chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt (Khoản 4, 5) Ngoài các
căn cứ cá nhân, còn có các căn cứ mang tính chính trị và pháp lý đặc biệt:
- Thay đổi chính sách, pháp luật: Khi có quy định mới của pháp luật
làm cho hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn tính nguy hiểm cho
xã hội. Hoặc khi có lệnh đại xá.
- Người dưới 18 tuổi: Nếu người dưới 18 tuổi bị kết
án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng mà lập công
hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì cũng được xem xét miễn chấp hành hình phạt
còn lại.
3. Phân
biệt Miễn hình phạt (Điều 59) và Miễn chấp hành hình phạt (Điều 62) Đây là hai
khái niệm rất dễ gây nhầm lẫn trong các bài thi hoặc thực tế tư vấn:
|
Tiêu
chí
|
Miễn
hình phạt (Đ59)
|
Miễn
chấp hành hình phạt (Đ62)
|
|
Thời điểm
quyết định
|
Ngay khi tuyên
án tại phiên tòa.
|
Khi bản án
đã có hiệu lực (đang chờ hoặc đang đi tù).
|
|
Lý do
chủ yếu
|
Do tính chất
hành vi nhẹ, nhiều tình tiết giảm nhẹ.
|
Do biến cố
sức khỏe (bệnh hiểm nghèo) hoặc thái độ sau khi án có hiệu lực (lập công).
|
|
Thực tế
thi hành
|
Chưa phải đi tù/nộp phạt một ngày nào.
|
Thường
đã thi hành được một
phần hoặc đang chờ thi hành.
|
4. Hệ quả
pháp lý Người được
miễn chấp hành hình phạt: 1.
Không
phải tiếp tục chịu sự quản lý của cơ quan thi hành án hình sự. 2.
Vẫn
bị coi là có án tích. Thời gian để xóa án tích sẽ tính từ ngày có quyết
định miễn chấp hành hình phạt. 3.
Vẫn
phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự (bồi thường tiền) nếu bản án có tuyên, trừ
khi phần dân sự cũng được miễn/giảm riêng biệt theo luật dân sự.
Lưu ý: Thẩm quyền quyết định miễn chấp hành
hình phạt thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh nơi người bị
kết án đang chấp hành án hoặc cư trú, dựa trên đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp. Bạn có muốn
tìm hiểu thêm về hồ sơ và thủ tục để xin Miễn chấp hành hình phạt do mắc bệnh
hiểm nghèo không?
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét