Trong tố tụng
hình sự Việt Nam, Giám đốc thẩm và Tái thẩm đều là những thủ tục
đặc biệt nhằm xem xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy
nhiên, chúng có sự khác biệt căn bản về bản chất và lý do phát kháng nghị. Dưới đây là
bảng so sánh chi tiết giữa hai thủ tục này theo quy định của Bộ luật Tố tụng
Hình sự: Bảng so
sánh Giám đốc thẩm và Tái thẩm
|
Tiêu
chí
|
Thủ tục
Giám đốc thẩm
|
Thủ tục
Tái thẩm
|
|
Bản chất
|
Xét lại bản
án đã có hiệu lực nhưng bị kháng nghị vì có sai lầm trong việc áp dụng
pháp luật hoặc tiến hành tố tụng.
|
Xét lại bản
án đã có hiệu lực nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới làm thay đổi
cơ bản nội dung vụ án mà Tòa án không biết được khi ra bản án.
|
|
Căn cứ
kháng nghị
|
1. Kết luận
trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan vụ án.
2. Vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
3. Sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
|
1. Chứng cứ/lời
khai giả mạo.
2. Kết luận
giám định/phiên dịch sai sự thật.
3. Điều
tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán làm sai lệch hồ sơ.
4. Tình tiết
mới khác làm thay đổi bản chất vụ án.
|
|
Thời hạn
kháng nghị
|
Theo hướng
không có lợi cho người bị kết án: 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực.
Theo hướng
có lợi: Có thể thực
hiện bất cứ lúc nào, kể cả khi người bị kết án đã chết.
|
Theo hướng
không có lợi:
Trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (nhưng không quá 01 năm kể từ
ngày biết được tình tiết mới).
Theo hướng
có lợi: Không hạn
chế thời gian.
|
|
Đối tượng
thực hiện
|
Do những
người có thẩm quyền (Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC...) phát hiện sai lầm
từ hồ sơ vụ án.
|
Do bất kỳ
cá nhân, cơ quan nào phát hiện tình tiết mới và báo tin cho Viện kiểm sát.
|
Những điểm
khác biệt then chốt cần lưu ý 1.
Về nguồn gốc phát sinh: o Giám đốc thẩm tập trung vào cái "sai" của
người cầm cân nảy mực (Thẩm phán, Hội đồng xét xử) khi đánh giá chứng cứ hoặc
áp dụng điều luật không chuẩn xác tại thời điểm xét xử. o Tái thẩm tập trung vào cái "mới" của
sự thật khách quan. Tại thời điểm xét xử, Tòa án đã làm đúng quy trình nhưng do
bị lừa dối (chứng cứ giả) hoặc có tình tiết khách quan chưa xuất hiện nên bản
án bị sai lệch. 2.
Về quyền kháng nghị: o Trong cả hai thủ tục, người bị kết án
hoặc đương sự không có quyền đại diện kháng nghị mà chỉ có quyền thông
báo, kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị. 3.
Hệ quả pháp lý: o Hội đồng xét xử giám đốc thẩm/tái thẩm
có quyền: Bác kháng nghị, hủy bản án để điều tra lại/xét xử lại, hoặc trong một
số trường hợp cụ thể có thể sửa bản án (đối với giám đốc thẩm) nếu các tình tiết
đã rõ ràng. Thông thường,
trong các báo cáo nghiên cứu về luật hình sự, việc phân biệt rõ hai thủ tục này
giúp xác định đúng hướng bảo vệ quyền lợi cho đương sự, đặc biệt là khi xem xét
các tình tiết mới phát sinh sau khi bản án đã có hiệu lực thi hành.
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét