Trong chế định
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN), thẩm quyền giải quyết bồi thường
được xác định theo nguyên tắc xuyên suốt: Cơ quan trực tiếp quản lý người
thi hành công vụ gây thiệt hại là cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết
bồi thường. Nói cách khác, cán bộ của cơ quan nào làm sai dẫn đến thiệt hại
thì chính cơ quan đó phải đứng ra thụ lý hồ sơ, chủ trì thương lượng và đền tiền
cho người dân.
Dựa trên
nguyên tắc này, Luật phân định thẩm quyền cụ thể theo từng lĩnh vực hoạt động
như sau:
1. Trong
hoạt động quản lý hành chính
Cơ quan có
thẩm quyền giải quyết bồi thường là cơ quan đã ban hành quyết định hành chính
trái luật hoặc có công chức thực hiện hành vi hành chính trái luật:
- Cấp địa phương: Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp
(xã, huyện, tỉnh) hoặc các cơ quan chuyên môn thuộc UBND (Sở, Phòng như: Sở
Tài nguyên và Môi trường, Phòng Xây dựng...) nếu các quyết định của các cơ
quan này gây thiệt hại (ví dụ: thu hồi đất sai quy trình, từ chối cấp phép
xây dựng trái luật).
- Cơ quan ngành dọc: Chi cục Thuế, Chi cục Hải quan,
Công an quận/huyện, Đội Quản lý thị trường... khi các công chức thuộc các
đơn vị này ra quyết định xử phạt hoặc thu giữ tang vật trái pháp luật.
2. Trong
hoạt động tố tụng hình sự
Đây là lĩnh
vực có sự dịch chuyển phức tạp qua các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Thẩm
quyền được xác định dựa trên văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường cuối cùng:
- Cơ quan điều tra (Công an/Quân đội): Là cơ quan giải quyết bồi thường
nếu cơ quan này ra quyết định tạm giữ, khởi tố oan nhưng sau đó chính
Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vì không có sự việc
phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
- Viện kiểm sát: Là cơ quan giải quyết bồi thường
trong các trường hợp:
- Cơ quan điều tra ra lệnh tạm
giam nhưng Viện kiểm sát phê chuẩn, sau đó người đó được xác định là bị
oan ở giai đoạn điều tra.
- Viện kiểm sát ra quyết định
truy tố nhưng sau đó chính Viện kiểm sát rút quyết định truy tố hoặc
đình chỉ vụ án vì người đó bị oan.
- Tòa án: Là cơ quan giải quyết bồi thường
nếu Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội bằng
bản án đã có hiệu lực pháp luật; hoặc Tòa án cấp cao hơn hủy án để đình chỉ
vụ án vì bị oan theo thủ tục Giám đốc thẩm/Tái thẩm.
3. Trong
hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
- Tòa án giải quyết vụ án: Tòa án nơi Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án ban hành quyết định trái pháp luật (ví dụ: áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp
trái quy định, gây thiệt hại kinh tế) sẽ là cơ quan đứng ra bồi thường.
4. Trong
hoạt động thi hành án
- Thi hành án dân sự (THADS): Chi cục THADS cấp huyện hoặc Cục
THADS cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường nếu Chấp hành viên thuộc
biên chế của các đơn vị này có sai phạm (như kê biên nhầm tài sản của người
khác, bán đấu giá rẻ tài sản của dân trái luật).
- Thi hành án hình sự (THAHS): Cơ quan THAHS Công an cấp tỉnh/huyện,
hoặc các Trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm giải
quyết bồi thường nếu cán bộ quản giáo có hành vi giam giữ quá hạn, nhục
hình gây thiệt hại cho phạm nhân.
Trường hợp
đặc biệt: Cơ quan làm sai đã bị sáp nhập, chia tách hoặc giải thể
Để người dân
không bị rơi vào tình trạng "mất dấu" cơ quan đền bù, Luật quy định
phương án xử lý chuyển giao trách nhiệm như sau:
- Nếu cơ quan làm sai bị sáp nhập
hoặc chia tách:
Cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ hiện tại của cơ quan cũ sẽ gánh
chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường.
- Nếu cơ quan làm sai bị giải thể: Cơ quan cấp trên trực tiếp
của cơ quan đã giải thể sẽ đứng ra làm đầu mối thụ lý hồ sơ và giải quyết
bồi thường cho người dân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét