Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Giá trị pháp lý của các bản kết luận định giá khác nhau trong cùng một vụ án?

CÂU HỎI : 

  • Giá trị pháp lý của các bản kết luận định giá khác nhau trong cùng một vụ án?

(Trả lời bên dưới)

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự (đặc biệt là các vụ án về kinh tế, tham nhũng, hoặc xâm phạm sở hữu), việc xuất hiện nhiều Bản kết luận định giá tài sản khác nhau do có hoạt động định giá lại là điều diễn ra khá phổ biến.

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015Nghị định số 250/2025/NĐ-CP, giá trị pháp lý của các bản kết luận này không được cào bằng mà được phân định theo nguyên tắc thứ bậc hiệu lựcmức độ tin cậy của chứng cứ.

1. Nguyên tắc thứ bậc hiệu lực: Kết luận sau phủ quyết kết luận trước

Về mặt hiệu lực tố tụng, các bản kết luận định giá có giá trị pháp lý thay thế nhau theo trình tự từ thấp đến cao:

  • Kết luận định giá lần đầu và Kết luận định giá lại lần đầu: Khi cơ quan tố tụng đã ra văn bản yêu cầu định giá lại và Hội đồng định giá cấp trên đã ban hành Kết luận định giá lại, thì về mặt nguyên tắc, kết luận định giá lại này sẽ phủ quyết và thay thế giá trị pháp lý của kết luận định giá lần đầu để làm căn cứ giải quyết vụ án.
  • Giá trị tối cao của Kết luận định giá trong trường hợp đặc biệt: Đây là văn bản do Hội đồng định giá theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành. Pháp luật quy định đây là kết luận cuối cùng của vụ án. Nó mang giá trị pháp lý tuyệt đối và bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải sử dụng để định tội, định khung hoặc ra phán quyết bồi thường thiệt hại, không một cơ quan nào được phép yêu cầu định giá lại nữa.

2. Bản chất pháp lý: Kết luận định giá chỉ là một "Nguồn chứng cứ"

Mặc dù có nguyên tắc thứ bậc, dưới góc độ tranh tụng sòng phẳng tại Tòa án, tất cả các bản kết luận định giá (trừ kết luận đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ) đều chỉ được coi là một nguồn chứng cứ giống như lời khai, kết luận giám định hay vật chứng.

  • Tòa án không áp dụng máy móc: Hội đồng xét xử không đương nhiên thừa nhận kết luận của cấp trên là đúng và cấp dưới là sai. Tại phiên tòa, các bên (Kiểm sát viên, Bị cáo, Luật sư) có quyền tranh tụng, mổ xẻ và đối chất về tính hợp pháp của từng bản kết luận.
  • Tiêu chí đánh giá của Tòa án: Tòa án sẽ công nhận và sử dụng bản kết luận định giá nào đáp ứng trọn vẹn hai điều kiện:

1.     Hợp pháp về thủ tục: Hội đồng thành lập đúng thẩm quyền, đủ thành viên lẻ (tối thiểu 3 hoặc 5 người), quy trình bỏ phiếu kín trung thực, không có thành viên bị xung đột lợi ích.

2.     Có căn cứ khoa học: Phương pháp định giá áp dụng đúng quy chuẩn, khảo sát giá thị trường sát thực tế tại đúng thời điểm và địa điểm xảy ra vụ án.

3. Hệ quả pháp lý khi các kết luận "đá nhau" và Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN)

Tình huống nan giải nhất là khi các kết luận định giá chênh lệch nhau quá lớn dẫn đến việc thay đổi bản chất vụ án (ví dụ: Bản kết luận 1 định giá tài sản 500 triệu đồng -> Khởi tố bắt giam; Bản kết luận 2 định giá lại chỉ còn 1,5 triệu đồng -> Không đủ yếu tố cấu thành tội phạm).

Sự vênh nhau này tạo ra các kịch bản pháp lý rất nghiêm trọng:

Kịch bản 1: Phát hiện sai sót kịp thời (Chưa gây hậu quả)

Cơ quan tố tụng dùng Kết luận định giá lại (mức giá thấp) để ra quyết định đình chỉ vụ án, trả tự do ngay cho công dân. Lúc này, vi phạm mới dừng lại ở mức độ thủ tục, chưa dẫn đến oan sai nghiêm trọng kéo dài.

Kịch bản 2: Oan sai đã hoàn thành (Hệ lụy bồi thường khổng lồ)

Nếu cơ quan tố tụng cố chấp sử dụng bản kết luận định giá sai (đầy rẫy khiếu nại nhưng bỏ qua) để ra bản án kết tội, tù giam công dân, nhưng sau này qua thủ tục Giám đốc thẩm/Tái thẩm, Bản kết luận định giá lại (hoặc kết luận của Thủ tướng) chứng minh mức giá thực tế không cấu thành tội phạm:

1.     Nhà nước phải đền bù: Kích hoạt Luật TNBTCNN, Nhà nước phải xuất ngân sách chi trả toàn bộ thiệt hại về tinh thần, thu nhập thực tế bị mất, chi phí thuê Luật sư cho công dân bị oan.

2.     Truy thu hoàn trả tiền túi cá nhân: Cơ quan nhà nước sẽ lật lại hồ sơ Hội đồng định giá ban đầu. Các thành viên Hội đồng định giá có lỗi cố ý làm sai lệch giá, bẻ cong chứng cứ sẽ bị buộc phải nộp tiền hoàn trả bằng tiền túi cá nhân với mức phạt lên đến 50 tháng lương, đồng thời đối mặt với nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Cố ý làm sai lệch kết quả định giá tài sản trong tố tụng".

 

Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích

VIDEO:

(đang cập nhật)

TÌM HIỂU VẤN ĐỀ LIÊN QUAN:

(đang cập nhật)

GÓC BÁO CHÍ:

(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét