Thời hiệu
yêu cầu bồi thường là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà khi hết thời hạn
đó, người bị thiệt hại sẽ mất quyền yêu cầu cơ quan nhà nước giải quyết bồi thường.
Để bảo vệ
quyền lợi tối đa cho người dân trong trường hợp họ gặp phải các trở ngại khách
quan, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành quy định rất rõ
về thời hạn này cũng như các khoảng thời gian "vàng" được trừ ra,
không tính vào thời hiệu.
1. Quy định
về Thời hiệu yêu cầu bồi thường
Thời hiệu
yêu cầu bồi thường của Nhà nước là 03 năm.
Tuy nhiên,
điểm mấu chốt là thời điểm để bắt đầu tính thời hạn 03 năm này (ngày khởi
đầu thời hiệu). Luật quy định ngày bắt đầu tính được xác định là ngày người có
quyền yêu cầu nhận được một trong các văn bản sau:
- Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi
thường: Ngày nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại, bản án, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền xác định hành vi của công chức là trái pháp luật.
- Văn bản làm rõ hành vi trái pháp
luật: Hoặc ngày
nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo mà
trong đó có nội dung xác định rõ hành vi vi phạm của người thi hành công vụ.
2. Trường
hợp nào thời gian KHÔNG tính vào thời hiệu?
Đây là quy định
mang tính nhân văn sâu sắc của pháp luật nhằm hỗ trợ người dân. Khi rơi vào các
trường hợp dưới đây, "đồng hồ" thời hiệu 03 năm sẽ tạm dừng chạy.
Sau khi trở ngại kết thúc, thời hiệu mới tiếp tục chạy tiếp.
Các khoảng
thời gian không tính vào thời hiệu bao gồm:
Khoảng thời
gian xảy ra Sự kiện bất khả kháng hoặc Trở ngại khách quan
Là những sự
kiện nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, khiến người bị thiệt hại không thể
thực hiện được quyền yêu cầu đúng hạn:
- Sự kiện bất khả kháng: Thiên tai (lũ lụt, động đất), dịch
bệnh trên diện rộng, chiến tranh... khiến giao thông chia cắt, các cơ quan
nhà nước ngừng tiếp nhận hồ sơ.
- Trở ngại khách quan: Người có quyền yêu cầu bồi thường
bị ốm đau nặng, tai nạn phải nằm viện cấp cứu lâu ngày; hoặc họ phải đi
làm việc, học tập ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo chưa có điều kiện liên lạc;
hoặc do các cơ quan nhà nước trì hoãn, không cung cấp kịp thời các giấy tờ
cần thiết.
Khoảng thời
gian người bị thiệt hại là Người chưa thành niên, Người mất năng lực hành vi
dân sự... chưa có người đại diện
Nếu người bị
thiệt hại thuộc nhóm đối tượng yếu thế:
- Người chưa thành niên (dưới 18
tuổi).
- Người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi.
- Điều kiện tạm dừng: Khi họ chưa có người đại diện
theo pháp luật hoặc người đại diện của họ đã chết, mất năng lực hành vi mà
chưa bầu/cử được người đại diện mới. Khoảng thời gian trống này sẽ
hoàn toàn không tính vào thời hiệu cho đến khi họ có người đại diện hợp
pháp đứng ra làm đơn.
Lưu ý
quan trọng về nghĩa vụ chứng minh: Khi người yêu cầu bồi thường nộp hồ sơ muộn (quá 03 năm kể từ
ngày nhận văn bản làm căn cứ) và muốn áp dụng quy định trừ thời gian nêu trên,
họ có nghĩa vụ phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ hợp pháp để chứng minh
về khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó
(ví dụ: Giấy xác nhận viện phí, giấy xác nhận của chính quyền địa phương về
thiên tai...).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét