Trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) và Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong dân sự (TNBTDS thông thường) đều có chung mục đích là khắc phục các
tổn thất và bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên,
do TNBTCNN gắn liền với hoạt động công quyền, hai chế định này có sự
phân hóa rất lớn về bản chất pháp lý, chủ thể và quy trình giải quyết. Bảng so
sánh phân biệt chi tiết
|
Tiêu
chí
|
Trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN)
|
Trách
nhiệm bồi thường dân sự thông thường
|
|
Cơ sở
pháp lý
|
Luật Trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước.
|
Bộ luật
Dân sự (Chương bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
|
|
Chủ thể
gây thiệt hại
|
Người
thi hành công vụ
(công chức, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang...) đang thực hiện nhiệm vụ
được Nhà nước giao.
|
Cá
nhân, pháp nhân thông thường (bất kỳ ai trong đời sống xã hội, không nhân danh quyền lực
nhà nước).
|
|
Bản chất
hành vi
|
Là hành vi
trái pháp luật xảy ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi
hành án.
|
Là hành vi
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự... trong các quan hệ đời sống,
kinh doanh.
|
|
Căn cứ
phát sinh bắt buộc
|
Bắt buộc
phải có Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường của cơ quan có thẩm quyền xác định
hành vi đó là trái luật.
|
Không bắt
buộc có văn bản trước; người bị thiệt hại tự thu thập chứng cứ chứng minh lỗi
và thiệt hại để kiện ra Tòa.
|
|
Chủ thể
đứng ra bồi thường
|
Cơ quan
nhà nước (nơi quản
lý người thi hành công vụ sai phạm) có nghĩa vụ đền bù tiền trước cho người
dân từ Ngân sách.
|
Chính
cá nhân, pháp nhân gây thiệt hại phải tự móc tiền túi để bồi thường cho nạn nhân.
|
|
Cơ chế
hoàn trả
|
Người thi
hành công vụ có lỗi có nghĩa vụ hoàn trả lại một khoản tiền cho Ngân
sách theo quyết định của Hội đồng hoàn trả.
|
Không có
cơ chế này vì người gây thiệt hại và người đền bù là một.
|
|
Thủ tục
giải quyết
|
Trải qua
giai đoạn Thương lượng bắt buộc tại cơ quan nhà nước làm sai. Nếu
thương lượng thất bại mới khởi kiện ra Tòa án.
|
Các bên tự
thỏa thuận với nhau. Nếu không thỏa thuận được thì trực tiếp Khởi kiện ra
Tòa án, không có thủ tục hành chính bắt buộc.
|
3 Điểm
khác biệt cốt lõi giải thích bằng ví dụ Để thấy rõ sự
khác biệt mang tính bản chất, chúng ta có thể đặt hai tình huống song song: 1. Về chủ
thể và nguồn tiền chi trả
- Dân sự thông thường: Tài xế của một công ty logistic
lái xe bất cẩn đâm hỏng tường nhà dân. Trong trường hợp này, Công ty
logistic (pháp nhân) đứng ra đền tiền cho chủ nhà bằng nguồn vốn của doanh
nghiệp.
- TNBTCNN: Xe của lực lượng Quản lý thị
trường đang đi thi hành nhiệm vụ cưỡng chế, do lái xe phóng nhanh đã đâm đổ
tường nhà dân. Lúc này, UBND hoặc cơ quan Quản lý thị trường phải đứng
ra lập hồ sơ đền bù cho người dân, và dòng tiền chi trả trích từ Ngân
sách nhà nước.
2. Sự chặt
chẽ về điều kiện văn bản
- Trong dân sự, nếu bạn bị ai đó
vu khống trên mạng gây thiệt hại kinh tế, bạn thu thập ảnh chụp màn hình,
vi bằng rồi nộp thẳng đơn kiện ra Tòa án đòi bồi thường.
- Trong TNBTCNN, nếu bạn cho rằng
mình bị công an phường xử phạt vi phạm hành chính oan dẫn đến đóng cửa cửa
hàng, bạn chưa thể đòi bồi thường ngay. Trước tiên, bạn phải khiếu
nại hoặc khởi kiện hành chính để có một quyết định hoặc một bản án tuyên bố:
"Quyết định xử phạt của công an phường là trái pháp luật".
Có văn bản gác cổng này trong tay, thời hiệu và quyền đòi bồi thường của bạn
mới chính thức được kích hoạt.
3. Cơ chế
thế quyền và hoàn trả Trong quan hệ
công vụ, Nhà nước đóng vai trò là "người bảo lãnh". Để người dân
không bị cơ quan làm sai trốn tránh, Nhà nước đứng ra gánh trách nhiệm tài
chính trước (lấy tiền túi của Nhà nước trả cho dân). Sau đó, Nhà nước mới quay
lại xử lý nội bộ, thành lập Hội đồng để xem xét mức độ lỗi (vô ý hay cố ý) của
công chức đó để ra Quyết định thu hồi, buộc công chức phải nộp tiền hoàn trả lại
cho Ngân sách.
Luật
gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét