Việc xác định
tuổi của người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) trong tố tụng hình sự cực kỳ
quan trọng. Tuy nhiên, có một điểm mấu chốt rất dễ nhầm lẫn: Quy trình tính
tuổi cho "Người bị buộc tội" và "Người bị hại" khi hồ sơ hộ
tịch rõ ràng thì giống nhau, nhưng khi phải dùng đến kết quả giám định pháp y
thì nguyên tắc áp dụng lại hoàn toàn khác nhau.
Sự khác biệt
này xuất phát từ việc pháp luật luôn ưu tiên áp dụng nguyên tắc có lợi nhất cho
người dưới 18 tuổi, bất kể họ tham gia tố tụng với tư cách nào.
Trình tự và
nguyên tắc xác định tuổi cụ thể được thực hiện theo Điều 417 Bộ luật Tố tụng
hình sự 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT như sau:
Giai đoạn
1: Xác định dựa trên giấy tờ hộ tịch (Áp dụng chung)
- Cơ quan tiến
hành tố tụng sẽ ưu tiên số một các tài liệu, giấy tờ gốc hợp pháp bao gồm: Giấy
chứng sinh, Giấy khai sinh, Căn cước công dân, Hộ chiếu, dữ liệu dân cư quốc
gia...
- Nếu các giấy
tờ này mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc bị mất, cơ quan tố tụng phải phối hợp với
gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương để lấy lời khai, xác minh và thu
thập tài liệu khác có giá trị chứng minh.
Giai đoạn
2: Quy đổi khi thiếu ngày, tháng sinh (Áp dụng chung)
Nếu đã áp dụng
các biện pháp xác minh mà chỉ xác định được tháng, quý hoặc năm sinh, ngày sinh
sẽ được quy đổi lùi về thời điểm muộn nhất để số tuổi tính ra là thấp
nhất:
- Chỉ biết tháng sinh àLấy ngày cuối cùng của tháng
đó.
- Chỉ biết quý sinh à Lấy ngày cuối cùng của tháng
cuối cùng trong quý đó.
- Chỉ biết năm sinh àLấy ngày 31 tháng 12 của
năm đó.
Giai đoạn
3: Phân tách nguyên tắc khi phải Giám định tuổi
Khi áp dụng
tất cả các biện pháp ở trên mà vẫn không xác định được năm sinh, cơ quan điều
tra bắt buộc phải trưng cầu giám định pháp y để xác định tuổi. Khi kết quả giám
định cho ra một khoảng độ tuổi (Ví dụ: từ 13 tuổi 6 tháng đến 14 tuổi 2
tháng), cơ quan tố tụng sẽ áp dụng nguyên tắc khác nhau cho từng đối tượng:
|
Đối tượng
|
Nguyên
tắc áp dụng khoảng tuổi giám định
|
Mục
đích pháp lý
|
Ví dụ
thực tế
|
|
Người bị
buộc tội (Người
phạm tội)
|
Chọn MỨC
TUỔI THẤP NHẤT trong khoảng giám định.
|
Để đảm bảo
nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 - Suy đoán vô tội), giúp họ có tuổi thấp nhất, từ đó được hưởng tối
đa các chính sách hình sự khoan hồng (như miễn TNHS, giảm nhẹ hình phạt, áp dụng
thủ tục chuyển hướng).
|
Kết quả
giám định bị can X từ 13 tuổi 8 tháng đến 14 tuổi 4 tháng.
à Xác định X là 13 tuổi 8 tháng
(dưới 14 tuổi, không phải chịu TNHS).
|
|
Người bị
hại (Nạn nhân)
|
Chọn MỨC
TUỔI CAO NHẤT trong khoảng giám định.
|
Để đảm bảo
cấu thành tội danh chính xác và áp dụng nguyên tắc có lợi cho người bị hại (bảo
vệ quyền lợi trẻ em). Tuổi nạn nhân càng cao thì mức độ nghiêm trọng và khung
hình phạt đối với người phạm tội càng giảm (hoặc có thể không phạm tội),
tránh việc kết án oan sai cho người bị buộc tội khi chưa rõ ràng.
|
Kết quả
giám định nạn nhân Y từ 12 tuổi 9 tháng đến 13 tuổi 5 tháng.
à Xác định Y là 13 tuổi 5 tháng
(đã trên 13 tuổi). Người thực hiện hành vi giao cấu (thuận tình, từ đủ 16 tuổi)
sẽ không bị xử lý về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 142 (áp dụng với nạn nhân dưới 13 tuổi).
|
⚠️ Tóm lại một quy tắc nằm lòng:
- Tính tuổi Người bị buộc tội:
Luôn kéo tuổi xuống thấp nhất (có lợi cho họ).
- Tính tuổi Người bị hại
(khi giám định): Luôn đẩy tuổi lên cao nhất (để loại trừ bớt trách
nhiệm hình sự cho người bị buộc tội theo nguyên tắc suy đoán vô tội, chỉ xử
lý khi chứng cứ tuổi tác của nạn nhân thật sự chắc chắn).
⚠️ Lưu ý đặc biệt về thuật ngữ "Từ
đủ"
Trong luật
hình sự, cụm từ "Từ đủ... tuổi" bắt buộc người đó phải sống
qua ngày sinh nhật của năm tuổi đó (tức là bước sang ngày tiếp theo sau ngày
sinh nhật).
- Ví dụ: Một người sinh ngày 20/05/2010,
thì phải đến 00 giờ 00 phút ngày 21/05/2026 mới được coi là từ đủ
16 tuổi. Nếu họ thực hiện hành vi phạm tội vào đúng ngày sinh nhật
20/05/2026, về mặt pháp lý họ vẫn tính là chưa đủ 16 tuổi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét