Xác định thiệt
hại khi tài sản bị xâm phạm trong chế định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
(TNBTCNN) được thực hiện theo nguyên tắc thiệt hại thực tế đến đâu, bồi thường
đến đó. Cơ quan giải quyết bồi thường sẽ quy đổi toàn bộ giá trị tài sản bị
tổn thất thành một khoản tiền cụ thể để chi trả cho người bị thiệt hại.
Dựa trên Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, cách xác
định giá trị thiệt hại đối với từng trạng thái của tài sản được quy định cụ thể
như sau:
1. Trường
hợp tài sản bị mất hoặc bị hủy hoại hoàn toàn
Khi tài sản
giao cho cơ quan nhà nước tạm giữ, kê biên bị làm mất, tịch thu hoặc tiêu hủy
trái pháp luật, giá trị bồi thường được tính theo giá thị trường của tài
sản đó:
- Cách xác định: Giá trị bồi thường là giá thị
trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng,
tiêu chuẩn kỹ thuật và cùng tình trạng hao mòn với tài sản bị mất tại
thời điểm thương lượng bồi thường (giai đoạn giải quyết tại cơ quan hành
chính) hoặc tại thời điểm xét xử sơ thẩm (nếu giải quyết tại Tòa án).
- Ví dụ: Một chiếc xe máy đời 2022 bị tạm
giữ trái pháp luật và bị mất. Giá trị bồi thường không phải là giá mua mới
của năm 2022 hay năm 2026, mà là số tiền cần thiết để mua một chiếc xe máy
cũ cùng thương hiệu, cùng đời 2022, có độ hao mòn tương đương trên thị trường
tại thời điểm các bên ngồi lại thương lượng.
2. Trường
hợp tài sản bị hư hỏng (Cơ thể tài sản còn nhưng giảm giá trị)
Khi tài sản
không bị mất nhưng bị va đập, bảo quản kém trong kho bãi dẫn đến móp méo, hoen
gỉ, mất linh kiện hoặc suy giảm công năng, chi phí bồi thường bao gồm hai khoản:
- Chi phí sửa chữa, phục hồi: Toàn bộ số tiền hợp lý để sửa
chữa, thay thế phụ tùng, linh kiện và phục hồi các chức năng của tài sản về
trạng thái trước khi bị hư hỏng (tính theo giá dịch vụ tại thời điểm giải
quyết bồi thường).
- Chi phí do tài sản bị giảm sút
giá trị (nếu có): Nếu tài sản sau khi sửa chữa xong vẫn bị giảm giá trị thương mại so
với ban đầu (ví dụ: xe ô tô đâm đụng, máy móc công nghệ cao đã qua sửa chữa
lớn), thì người bị thiệt hại được bồi thường thêm phần giá trị bị sụt giảm
này dựa trên kết quả giám định, định giá.
3. Trường
hợp tài sản bị phát mại, bán đấu giá trái pháp luật
Đây là tình
huống phức tạp thường xảy ra trong hoạt động thi hành án dân sự hoặc xử phạt
hành chính khi Chấp hành viên hoặc công chức bán đấu giá tài sản của dân một
cách oan sai. Do tài sản đã chuyển dịch quyền sở hữu sang cho bên thứ ba ngay
tình (người mua đấu giá hợp pháp), Nhà nước không thể trả lại hiện vật mà phải
đền bù bằng tiền:
- Căn cứ tính tiền bồi thường: Khoản tiền bồi thường được xác
định là giá thị trường của tài sản đó tại thời điểm thương lượng hoặc
xét xử sơ thẩm.
- Xử lý chênh lệch giá:
- Nếu giá thị trường tại thời điểm
giải quyết bồi thường cao hơn số tiền thu được từ việc bán đấu giá
trái luật trước đó, Nhà nước phải bù phần chênh lệch để đền đủ theo giá
thị trường cho người dân.
- Nếu giá thị trường thấp hơn
số tiền thu được từ việc bán đấu giá, Nhà nước vẫn phải trả toàn bộ số tiền
đã thu được từ việc bán đấu giá (đã trừ chi phí bán đấu giá hợp pháp nếu
có) cho người bị thiệt hại để đảm bảo quyền lợi tối đa cho họ.
4. Các
chi phí phái sinh được tính kèm theo
Bên cạnh giá
trị cốt lõi của tài sản nêu trên, người bị thiệt hại còn được Nhà nước bồi thường
các khoản chi phí thực tế phát sinh trực tiếp từ hành vi xâm phạm:
- Chi phí thuê tài sản thay thế: Số tiền người dân phải bỏ ra để
thuê tài sản khác phục vụ nhu cầu tối cần thiết trong thời gian tài sản bị
giữ trái luật (ví dụ: thuê xe tải để duy trì việc chở hàng hóa kinh doanh
đã ký hợp đồng).
- Chi phí lưu kho, bãi, bảo quản: Toàn bộ các khoản tiền mà người
dân đã phải nộp cho kho bãi để chuộc tài sản ra (nếu có).
- Chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt
hại: Các chi
phí hợp lý để cứu tài sản khi bị công chức bỏ mặc (ví dụ: chi phí thuê thợ
che chắn nhà cửa khi bị niêm phong trái luật gặp bão).
Phương thức
định giá khi các bên không tự thỏa thuận được
Trong quá
trình thương lượng, nếu người dân và cơ quan nhà nước làm sai không thể tự thống
nhất được mức giá thị trường của tài sản, cơ quan giải quyết bồi thường có
trách nhiệm thuê một Tổ chức thẩm định giá độc lập (hoặc thành lập Hội đồng
định giá) để khảo sát và ban hành Chứng thư thẩm định giá. Chi phí thuê thẩm định
giá này do ngân sách nhà nước chi trả, làm căn cứ pháp lý để chốt số tiền đền
bù cuối cùng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét