Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Phân tích căn cứ và thẩm quyền yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng?

CÂU HỎI : Phân tích căn cứ và thẩm quyền yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng?

(Trả lời bên dưới)

Trong tố tụng hình sự, định giá tài sản không phải là một thủ tục hành chính tùy nghi, mà là một hoạt động bổ trợ tư pháp được kiểm soát chặt chẽ bằng pháp luật. Việc cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra yêu cầu định giá tài sản phải dựa trên các căn cứ pháp lýthẩm quyền được quy định nghiêm ngặt tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015) và văn bản hướng dẫn chuyên ngành là Nghị định số 250/2025/NĐ-CP.

Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa căn cứ và thẩm quyền này giúp bảo đảm quyền con người, tính hợp pháp của chứng cứ và phòng ngừa rủi ro oan sai.

1. Căn cứ yêu cầu định giá tài sản

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được phép ra Văn bản yêu cầu định giá tài sản khi vụ việc rơi vào một trong các căn cứ pháp lý sau đây:

A. Căn cứ định tội và định khung hình phạt (Bắt buộc theo Luật)

Đây là căn cứ phổ biến nhất. Đối với các tội danh có cấu thành vật chất dựa trên định lượng giá trị tài sản, việc xác định số tiền thiệt hại hoặc giá trị tài sản bị xâm phạm là điều kiện tiên quyết để:

  • Xác định có tội hay không: Ví dụ, tội Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi tài sản phải trị giá từ 2 triệu đồng trở lên (hoặc dưới 2 triệu nhưng gây ảnh hưởng xấu, đã bị xử phạt hành chính...). Cơ quan tố tụng không thể tự "ước lượng" chiếc xe máy hay chiếc điện thoại bị mất mà bắt buộc phải có kết luận của Hội đồng định giá để làm căn cứ khởi tố.
  • Xác định khung hình phạt: Giá trị tài sản ở các mức khác nhau (ví dụ: từ 2 triệu đến dưới 50 triệu, từ 50 triệu đến dưới 200 triệu...) sẽ quyết định bị can bị áp dụng khung hình phạt nhẹ hay nặng.

B. Căn cứ giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Khi giải quyết vụ án hình sự, Tòa án phải giải quyết cả phần bồi thường thiệt hại dân sự do hành vi phạm tội gây ra (trả lại tài sản, đền bù phần tài sản bị hư hỏng, hủy hoại). Kết quả định giá tài sản của Hội đồng là căn cứ pháp lý để Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường đúng, đủ cho người bị hại.

C. Khi có sự nghi ngờ hoặc tranh chấp về kết luận định giá trước đó

  • Định giá lại lần đầu: Khi cơ quan tiến hành tố tụng tự mình phát hiện hoặc nhận được khiếu nại, kháng cáo hợp pháp của bị can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại cho rằng kết luận định giá tài sản trước đó có dấu hiệu sai lệch, thiếu khách quan hoặc áp sai giá thị trường.
  • Định giá lại trong trường hợp đặc biệt: Khi đã có kết luận định giá lại của Hội đồng cấp tỉnh hoặc cấp Bộ nhưng cơ quan tố tụng Trung ương thấy vẫn có mâu thuẫn nghiêm trọng, chưa đủ độ tin cậy để phá án.

2. Thẩm quyền yêu cầu định giá tài sản

Không phải bất kỳ chức danh tư pháp nào cũng có quyền ra Văn bản yêu cầu định giá tài sản. Quyền lực này được pháp luật phân định cho các cơ quan và cá nhân cụ thể sau:

A. Thẩm quyền theo Cơ quan tiến hành tố tụng

  • Cơ quan Điều tra: Các cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền yêu cầu định giá trong giai đoạn điều tra, xác minh nguồn tin tội phạm và điều tra vụ án.
  • Viện kiểm sát nhân dân: Có thẩm quyền yêu cầu định giá trong giai đoạn truy tố (nếu phát hiện hồ sơ thiếu kết luận định giá hoặc cần định giá lại mà không cần trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra).
  • Tòa án nhân dân: Có thẩm quyền yêu cầu định giá trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc ngay tại phiên tòa (nếu xét thấy chứng cứ định giá cũ chưa rõ ràng, bị các bên tranh tụng bác bỏ tại tòa).

B. Thẩm quyền theo Chức danh tư pháp (Người có quyền đặt bút ký)

Văn bản yêu cầu định giá tài sản chỉ có giá trị pháp lý khi được ký bởi các chức danh:

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
  • Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát.
  • Chánh án, Phó Chánh án Tòa án; hoặc Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa (khi có quyết định của Hội đồng xét xử).

3. Ý nghĩa tối quan trọng của việc tuân thủ Căn cứ và Thẩm quyền

Việc kiểm soát chặt chẽ căn cứ và thẩm quyền yêu cầu định giá có ý nghĩa quyết định đối với sinh mệnh pháp lý của vụ án:

Ý nghĩa đối với giá trị chứng cứ của vụ án

Nếu một văn bản yêu cầu định giá được ban hành sai thẩm quyền (ví dụ: do Điều tra viên tự ký thay vì Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký) hoặc không có căn cứ luật định, toàn bộ quá trình thành lập Hội đồng định giá sau đó sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Kết luận định giá tài sản thu được từ Hội đồng này sẽ bị tuyên là chứng cứ bất hợp pháp và không có giá trị chứng minh tại tòa, dẫn đến việc vụ án bị đình trệ, trả hồ sơ điều tra lại từ đầu.

Lá chắn ngăn ngừa Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN)

Dưới góc nhìn sâu sắc về quản lý nhà nước, việc thực hiện đúng căn cứ và thẩm quyền yêu cầu định giá chính là bước gác cổng tối quan trọng nhằm bảo vệ công dân và bảo vệ chính bộ máy tư pháp:

1.     Chống khởi tố tràn lan: Ngăn chặn việc cơ quan tố tụng lạm quyền, tự ý yêu cầu định giá tài sản không liên quan đến vụ án để sách nhiễu doanh nghiệp, công dân.

2.     Ngăn ngừa oan sai dây chuyền: Nếu cơ quan tố tụng tuân thủ đúng quy trình, yêu cầu Hội đồng định giá làm việc khách quan, họ sẽ tránh được rủi ro phê chuẩn các lệnh bắt giam, kê biên tài sản oan sai.

3.     Miễn trừ trách nhiệm hoàn trả: Khi công chức tư pháp làm đúng căn cứ và thẩm quyền do pháp luật quy định, họ sẽ được hệ thống pháp luật bảo vệ, loại trừ hoàn toàn các rủi ro bị xử lý kỷ luật hoặc phải gánh chịu nghĩa vụ hoàn trả tiền túi cá nhân (lên đến 50 tháng lương) nếu vụ án không may xảy ra rủi ro khách quan sau này.

 

Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích

VIDEO:

(đang cập nhật)

TÌM HIỂU VẤN ĐỀ LIÊN QUAN:

(đang cập nhật)

GÓC BÁO CHÍ:

(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét