Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Xác định giá trị tài sản là hàng cấm (ma túy, vũ khí...) hoặc tài sản không có trên thị trường tự do thì căn cứ vào đâu?

CÂU HỎI : Xác định giá trị tài sản là hàng cấm (ma túy, vũ khí...) hoặc tài sản không có trên thị trường tự do thì căn cứ vào đâu?

(Trả lời bên dưới)

Đối với hàng cấm (như ma túy, vũ khí quân dụng, pháo nổ, động vật hoang dã nguy cấp...) hoặc các loại tài sản không được phép lưu thông, không có bảng giá giao dịch trên thị trường tự do, Hội đồng định giá tài sản không thể áp dụng các phương pháp so sánh thị trường thông thường.

Theo quy định tại Nghị định số 250/2025/NĐ-CP (văn bản mới nhất thay thế toàn diện các nghị định cũ trước đây) và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành, việc xác định giá trị các loại tài sản đặc thù này được thực hiện nghiêm ngặt dựa trên các căn cứ pháp lý và kỹ thuật sau đây:

1. Căn cứ xác định giá trị đối với "Hàng cấm"

Pháp luật Việt Nam thiết lập một nguyên tắc nhất quán: Hàng cấm không có giá thị trường tự do hợp pháp, nhưng vẫn có giá trị quy đổi phục vụ tố tụng dựa trên chi phí kiểm soát và quy định của Nhà nước.

Hội đồng định giá sẽ căn cứ vào các nguồn dữ liệu theo thứ tự ưu tiên:

  • Giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định: Áp dụng mức giá quy định trong các văn bản, quyết định quản lý của các Bộ chủ quản đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vụ án.
    • Ví dụ đối với động vật hoang dã quý hiếm: Căn cứ vào khung giá do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc các quyết định xử phạt/tịch thu tang vật liên quan ban hành để làm giá quy chuẩn.
  • Giá mua bán gốc trong hồ sơ, tài liệu hợp pháp: Đối với các loại hàng hóa là hóa chất nguy hiểm, tiền chất ma túy hoặc vũ khí được nhập khẩu hoặc sản xuất phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khoa học: Hội đồng căn cứ vào hóa đơn, chứng từ mua sắm của Nhà nước, tờ khai hải quan nhập khẩu bộ quốc phòng, hoặc giá ghi trên sổ sách kế toán của đơn vị quản lý hợp pháp.
  • Giá thị trường quốc tế (nếu có): Đối với các tài sản không lưu hành trong nước nhưng có giá khai báo quốc tế hợp pháp, Hội đồng có thể tham chiếu giá sàn từ các tổ chức quốc tế được liên ngành tư pháp công nhận để quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm yêu cầu định giá.

2. Căn cứ xác định đối với tài sản "Không có trên thị trường tự do"

Đối với các tài sản đặc thù, vô hình, hoặc độc bản (như cổ vật, phần mềm chuyên dụng, bí mật kinh doanh, dây chuyền công nghệ cao chế tạo riêng...):

  • Sử dụng Chứng thư thẩm định giá độc lập: Hội đồng có quyền thuê các doanh nghiệp thẩm định giá chuyên nghiệp để lập Báo cáo và Chứng thư thẩm định giá, hoặc thuê các đơn vị tư vấn chuyên ngành đưa ra báo cáo tư vấn giá dựa trên các thuật toán kinh tế (phương pháp thặng dư, phương pháp thu nhập hóa...).
  • Ý kiến của các chuyên gia đầu ngành: Thu thập văn bản đánh giá, phản biện về giá trị của các cơ quan quản lý chuyên môn sâu, các viện nghiên cứu, hoặc các cá nhân có kiến thức uy tín tối thiểu 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đó (ví dụ: Hội đồng di sản văn hóa đối với cổ vật).

3. Quy tắc "Suy đoán vô tội" khi không thể định giá bằng tiền

Có những trường hợp tài sản đặc biệt mờ mịt hoặc hàng cấm (như các loại ma túy mới xuất hiện, vũ khí tự chế) hoàn toàn không có bất kỳ một văn bản nào quy định về giá bằng tiền. Lúc này, quy trình xử lý chuyển trạng thái:

Nguyên tắc chuyển hóa định lượng: Trong tố tụng hình sự, nếu tài sản là hàng cấm không thể định giá bằng tiền, cơ quan tố tụng không ép Hội đồng phải ra một con số tiền giả định.

Thay vào đó, việc định tội và định khung hình phạt sẽ chuyển sang căn cứ trực tiếp vào trọng lượng, thể tích, số lượng hoặc đặc tính lý - hóa - sinh của tang vật dựa trên Kết luận giám định tư pháp (quy định tại Bộ luật Hình sự) chứ không dựa vào Kết luận định giá tài sản.

  • Ví dụ: Bị can vận chuyển trái phép ma túy hoặc vũ khí quân dụng thì khung hình phạt tù được quyết định bằng số "gam" ma túy, số lượng "khẩu" súng thu giữ được qua giám định, chứ không phụ thuộc vào việc lô hàng đó trị giá bao nhiêu tiền trên thị trường đen.

4. Hệ quả đối với Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN)

Việc định giá hàng cấm và tài sản không có thị trường tự do chứa đựng rủi ro pháp lý cực kỳ cao cho các thành viên Hội đồng vì thiếu thước đo trực quan:

[Áp sai giá hàng cấm/độc bản theo cảm tính]

                     │

                     ▼

       [Quyết định tố tụng oan sai]

                     │

                     ▼

[Luật TNBTCNN: Nhà nước đền tiền tỷ cho dân]

                     │

                     ▼

[Truy thu tiền túi HOÀN TRẢ cá nhân công chức]

Nếu một Hội đồng định giá áp dụng mức giá tự chế, thiếu căn cứ văn bản cho một lô hàng hóa đặc thù của doanh nghiệp (quy kết là hàng cấm, đẩy giá lên cao để cơ quan tố tụng tịch thu, bắt giam oan người dân), thì khi doanh nghiệp được minh oan:

1.     Nhà nước phải xuất ngân sách đền bù toàn bộ giá trị thiệt hại thực tế, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần cho công dân.

2.     Kích hoạt nghĩa vụ hoàn trả tài chính cá nhân: Cơ quan nhà nước sẽ truy thu quyết liệt từ tiền túi của các thành viên Hội đồng có lỗi cố ý bẻ cong kết quả định giá với mức phạt từ 25 đến tối đa 50 tháng lương, thậm chí cán bộ làm sai còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Chính vì vậy, quy định gác cổng tại Nghị định 250/2025/NĐ-CP buộc các thành viên Hội đồng khi đối mặt với hàng cấm/tài sản độc bản phải tuyệt đối thượng tôn văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước, nếu hồ sơ mờ mịt phải áp dụng mức giá sàn thấp nhất có lợi cho bị can để triệt tiêu hoàn toàn rủi ro tai nạn tư pháp.

 

Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT tổng hợp và phân tích

VIDEO:

(đang cập nhật)

TÌM HIỂU VẤN ĐỀ LIÊN QUAN:

(đang cập nhật)

GÓC BÁO CHÍ:

(đang cập nhật)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét