Trong hệ thống
pháp luật Việt Nam, bãi nhiệm Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khi họ không còn xứng
đáng với sự tín nhiệm của nhân dân là một cơ chế quan trọng nhằm giám sát quyền
lực nhà nước, đảm bảo tính trong sạch và hiệu quả của cơ quan quyền lực cao nhất.
Cơ chế này
được quy định cụ thể tại Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi,
bổ sung năm 2020) và các văn bản liên quan. Quy trình này có thể thực hiện
theo hai con đường chính: do Quốc hội bãi nhiệm hoặc do Cử tri bãi
nhiệm.
1. Căn cứ
để bãi nhiệm
Theo quy định,
một ĐBQH bị xem xét bãi nhiệm khi:
- Không còn xứng đáng với sự tín
nhiệm của Nhân dân.
- Vi phạm pháp luật nghiêm trọng,
vi phạm tư cách đại biểu hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một
ĐBQH.
Lưu ý
phân biệt: Bãi nhiệm
khác với miễn nhiệm (xin thôi làm nhiệm vụ vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh
cá nhân hoặc do chuyển công tác) và mất quyền (khi bị tòa án kết án bằng
bản án có hiệu lực pháp luật). Bãi nhiệm mang tính chất kỷ luật, chế tài pháp
lý từ phía Nhà nước hoặc cử tri.
2. Hai
phương thức thực hiện bãi nhiệm
Hiến pháp
quy định ĐBQH có thể bị bãi nhiệm bởi Quốc hội hoặc bởi cử tri nơi bầu ra đại
biểu đó. Trên thực tế, phương thức Quốc hội quyết định phổ biến hơn cả.
Phương thức
1: Quốc hội quyết định bãi nhiệm
Đây là quy
trình diễn ra tại kỳ họp Quốc hội, tuân theo các bước chặt chẽ:
- Đề nghị: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
(UBTVQH) hoặc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), hoặc Hội
đồng bầu cử quốc gia (nếu trong thời gian bầu cử) có thẩm quyền trình Quốc
hội việc bãi nhiệm ĐBQH.
- Thẩm tra & Xem xét: Quốc hội thành lập Ủy ban thẩm
tra hoặc giao cho cơ quan chuyên trách báo cáo về hành vi vi phạm của đại
biểu. Bản thân đại biểu có quyền phát biểu ý kiến, tự bào chữa trước Quốc
hội.
- Biểu quyết: Quốc hội tiến hành bỏ phiếu
kín.
- Điều kiện thông qua: Nghị quyết về việc bãi nhiệm
ĐBQH phải được ít nhất hai phần ba (2/3) tổng số ĐBQH biểu quyết
tán thành.
Phương thức
2: Cử tri bãi nhiệm
Về mặt lý
thuyết, Hiến pháp tôn trọng quyền tối cao của cử tri. Quy trình này do UBTVQH
quyết định và tổ chức theo đề nghị của Ủy ban Trung ương MTTQVN:
- UBTVQH sẽ lập hội đồng bỏ phiếu
tại đơn vị bầu cử nơi đại biểu đó trúng cử.
- Cử tri tại địa phương đó sẽ tiến
hành bỏ phiếu bãi nhiệm hay không. Tuy nhiên, quy trình cụ thể cho phương
thức này hiện chưa được chi tiết hóa bằng một văn bản hướng dẫn riêng biệt
chi tiết như quy trình tại Quốc hội, nên hầu hết các trường hợp thực tế đều
do Quốc hội trực tiếp biểu quyết.
3. Hệ quả
pháp lý sau khi bị bãi nhiệm
Khi Quốc hội
thông qua Nghị quyết bãi nhiệm (có hiệu lực ngay lập tức), cá nhân đó sẽ:
1.
Chính
thức mất tư cách ĐBQH, thôi làm nhiệm vụ đại biểu.
2.
Bị
chấm dứt tư cách thành viên trong các Ủy ban, Hội đồng của Quốc hội (nếu có).
3.
Tùy
thuộc vào mức độ sai phạm, hồ sơ có thể được chuyển sang các cơ quan chức năng
để xử lý kỷ luật về mặt Đảng, hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định của Bộ luật Hình sự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét